Tên gọi của người Việt Nam xưa

Mỗi người chúng ta sinh ra trên đời đều có một cái tên. Cái tên là dấu ấn của cá nhân, gia đình, dòng họ, quê hương, xã hội và cả những ước vọng của người đặt tên gửi gắm vào trong ấy. Hiểu được cái tên của chính mình, một người có thể thấu hiểu nỗi lòng mẹ cha, trân quý sinh mệnh bản thân và hướng về những giá trị nhân sinh cao đẹp. Dưới đây là bài viết Phong thủy Vietaa giới thiệu về cách đặt tên, tên gọi của người Việt Nam xưa nhé!

Tên gọi của người Việt Nam xưa

Tên gọi của người Việt Nam xưa

 

Khác với Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, người Việt Nam luôn xưng hô bằng tên chứ không phải bằng họ. Bên cạnh những cái tên mộc mạc như “cô Ba”, “bác Tám”… hay thuần phác nôm na như Bông, Cười, Vui…, thì đa phần những cái tên ngày nay là từ Hán Việt. Kế thừa trọn vẹn tinh hoa 5000 năm của văn hóa Thần truyền.

Trong lịch sử, bên cạnh tên thật (tên húy) ra, thì một người còn có thể có một vài tên khác như: tên tự, tên hiệu, biệt hiệu, tên tặng, tên thụy, v.v. Chúng ta hãy cùng điểm qua những cái tên đó nhé!

Tên húy (tên thật)

Là tên được đặt từ thuở lọt lòng. Tên người Việt thường gồm 3 phần chính: Họ – tên đệm – tên chính. Ví dụ: Nguyễn Văn Chương.

Tên tự (tên chữ)

Là cái tên lấy chữ của một câu trong sách cổ. Có ý nghĩa liên quan đến tên húy hay chứa đựng tên húy. Chỉ những nhà có học sách Thánh hiền hay nhà khá giả mới đặt. Phép đặt tên tự thường là tên có nghĩa tương đồng, gần nghĩa với tên húy. Nhằm thúc đẩy, tăng cường xu hướng tích cực của khí chất, phẩm đức. Hoặc tên có nghĩa trái ngược với tên húy để hạn chế khắc chế xu hướng tiêu cực.

Ví dụ: Nguyễn Bỉnh Khiêm có tên tự là Hanh Phủ. Xuất phát từ một câu trong Kinh Dịch, quẻ Khiêm: “Khiêm: Hanh, quân tử hữu chung…”. Nghĩa là: Nhún nhường, hanh thông, người quân tử giữ được trọn vẹn tới cuối. Như vậy tên Khiêm (nhún nhường, khiêm cung), và tự Hanh Phủ (người hanh thông, thuận lợi) có nghĩa tương tự, gần nhau, bổ sung cho nhau. Thành tựu nên một bậc túc Nho trên thông thiên văn, dưới tường địa lý. Giữ được phẩm hạnh đến trọn đời, được cả 3 triều Mạc, Trịnh, Nguyễn kính trọng.

Tên gọi của người Việt Nam xưa

Tên hiệu

Là tên vốn đặt ra để gọi nhà ở, chỗ ở, nơi đọc sách viết văn và đôi khi để thể hiện tâm chí cá nhân. Tên hiệu thường dùng một trong các từ “Trai” (nhà sách); “Hiên” (mái nhà); “Am” (nhà nhỏ) và “Đường” (nhà lớn).

Ví dụ như: Nguyễn Trãi hiệu Ức Trai; Nguyễn Công Trứ hiệu Ngộ Trai; Cao Bá Quát hiệu Cúc Đường.

Biệt hiệu

Là tên hiệu nói lên một đặc điểm riêng nào đó của một người, chỉ một số ít Nho sĩ mới có. Biệt hiệu thường gắn với một địa danh nào đó.

Ví như Nguyễn Thiếp biệt hiệu La Sơn Phu tử (ông thầy ở huyện La Sơn); Nguyễn Du biệt hiệu Hồng Sơn Liệp hộ (người thợ săn ở núi Hồng Lĩnh); Phạm Quý Thích biệt hiệu Thảo Đường cư sĩ (cư sĩ ẩn mình trong nhà cỏ).

Tên tặng

Là tên do vua hoặc người đứng đầu quốc gia ban tặng cho người có tài đức khi còn sống.

Ví dụ: Mãn Giác thiền sư được Lý Nhân Tông và hoàng hậu yêu mến nên đặt cho tên Hoài Tín; tu sĩ Đồng Kim Cương được vua Trần Nhân Tông ban tặng tên hiệu Thiện Lai, sau đổi thành Pháp Loa.

Tên thụy

Là tên mà những người còn sống đặt cho một người đã qua đời, thường nhằm để ca tụng tài đức của người quá cố. Tên thuỵ còn được gọi là “tên tụng” hay “tụng hiệu”, gần giống với “tôn hiệu”.

Ví dụ: Chu An được vua Trần Nghệ Tông đặt cho thụy là Văn Trinh, nên đời sau hay gọi ông là Chu Văn An.

Tham khảo thêm bài viết Gợi ý những tên gọi đẹp cho con yêu năm 2019 tại đây!

Posted by minhloan

Trả lời